Chương trình tập trung vào sáu sản phẩm công nghệ chiến lược, gồm: mô hình ngôn ngữ lớn và trợ lý ảo tiếng Việt; AI camera xử lý tại biên; robot di động tự hành; hệ thống và thiết bị mạng di động 5G; hạ tầng mạng blockchain cùng các lớp ứng dụng truy xuất nguồn gốc, tài sản mã hóa; thiết bị bay không người lái (UAV).
Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ các công nghệ lõi và công nghệ chiến lược, tạo ra các sản phẩm có tỷ lệ nội địa hóa cao, thay thế nhập khẩu và tiến tới xuất khẩu. Chương trình còn hướng tới việc hình thành một số ngành công nghiệp chiến lược, có năng lực cạnh tranh quốc tế, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và bảo đảm tự chủ công nghệ quốc gia.
Một trong những mục tiêu cụ thể là phát triển các sản phẩm đáp ứng 30% thị trường trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Chương trình cũng đặt mục tiêu hỗ trợ 30 doanh nghiệp và 10 viện nghiên cứu, trường đại học tham gia phát triển công nghệ lõi, sản phẩm công nghệ chiến lược.
Chính phủ hướng tới hình thành ít nhất ba ngành công nghiệp chiến lược, tạo ra các dòng sản phẩm và dịch vụ mới có giá trị gia tăng cao. Các sản phẩm được phát triển phải đạt tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa tối thiểu 60% trong giá bán và 40% trong giá thành, đồng thời làm chủ ít nhất 80% công nghệ lõi.
Về trình độ công nghệ, kết quả các nhiệm vụ phải được công bố trên các tạp chí khoa học thuộc danh mục được tính điểm của Hội đồng Giáo sư Nhà nước. Tối thiểu 60% nhiệm vụ có đơn yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được chấp nhận. Việt Nam cũng đặt mục tiêu hình thành 10 nhóm nghiên cứu mạnh có sự tham gia của doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học.
Về chỉ tiêu thương mại hóa, tối thiểu 80% nhiệm vụ phải có kết quả được đưa vào sản xuất, kinh doanh hoặc thương mại hóa. Ngoài ra, ít nhất 10% nhiệm vụ nghiên cứu công nghệ có thể ứng dụng trong cả lĩnh vực dân dụng và quốc phòng, an ninh.